Lớp Cơ Giới Hóa Xây Dựng Giao Thông Khóa 49
Chào mừng bạn tới thăm ngôi nhà của chúng tôi. chúc bạn có những phút giây vui vẻ, và bây giờ thì đăng nhập nào, nhìn gì nữa

Nhìn gì nữa, tát cho cái bây giờ, đăng nhập đê!

Liên hệ admin Rahô Mrhoa297

Câu hỏi về dân số và tài nguyên

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Câu hỏi về dân số và tài nguyên

Bài gửi by Admin on Tue Oct 04, 2011 6:46 am

Dân số vẫn là nguyên nhân chủ yếu tác động đến sự suy thoái
và tàn phá môi trường trong hiện tại và tương lai. Tác hại của môi trường đối
với con người chủ yếu là những tổn thất về sức khỏe, nǎng suất lao động và các
tác hại khác.

i. hiện trạng dân số việt nam

Phân tích hiện trạng dân số Việt Nam được dựa vào nguồn số liệu mới công bố gần
đây nhất của Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số trung ương 1/4/1999. Kết quả suy
rộng từ mẫu 3% số địa bàn điều tra trong cuộc tổng điều tra dân số (TĐTDS) và
nhà ở đã tiến hành tại thời điểm 0 giờ ngày 1/4/1999.

Số lượng và tình hình gia tǎng dân số

Theo kết quả TĐTDS ngày 1/4/1999, dân số Việt Nam là 76.327.921 người. Tính từ
cuộc TĐTDS (1/4/1989), số dân nước ta tǎng thêm 11,9 triệu người. Như vậy, mặc
dù đã đạt được những thành tựu đáng kể trong chiến lược dân số - kế hoạch hóa
gia đình, song sau 10 nǎm, dân số vẫn tǎng thêm tương đương với số dân của một
nước cỡ trung bình (trên thế giới có khoảng 120 nước trên tổng số hơn 170 nước
có số dân dưới 12 triệu người).

Tỉ suất tǎng dân số bình quân của thời kỳ 1989-1999 là 17%o, giảm 5%o so với
tốc độ tǎng dân số của 10 nǎm trước đó. Tốc độ tǎng dân số giữa 2 cuộc TĐTDS
giảm ở tất cả các vùng, nhanh nhất ở đồng bằng sông Hồng và chậm nhất ở duyên
hải Nam Trung bộ.

Tỉ suất sinh thô, tỉ suất chết thô và tỉ suất chết sơ sinh tính cho 12 tháng
trước thời điểm TĐTDS tương ứng là 19,9%o, 5,6%o và 36,7%o. Tỉ suất tǎng tự
nhiên là 14,3%o. Tương tự như tỉ suất tǎng dân số, các tỉ suất sinh, tỉ suất
chết và tỉ suất tǎng tự nhiên dân số đều giảm nhanh ở tất cả các tỉnh và các
vùng trong 10 nǎm qua.

Đến nǎm 1998, tổng tỉ suất sinh ở nước ta là 2,5 con/1 phụ nữ trong tuổi sinh
đẻ, giảm 35% so với TFR 10 nǎm trước. Đã có 23/61 tỉnh, thành phố đã đạt hoặc
thấp hơn mức sinh thay thế (TFR Ê 2,1). Riêng khu vực thành thị, chỉ trừ 5 tỉnh
(Quảng Trị, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai và Đắk Lắk), tất cả khu vực thành thị
của các tỉnh, thành phố còn lại đều đã đạt hoặc thấp hơn mức sinh thay thế. Đây
là bức tranh tương phản với tình trạng mức sinh cao trong cuộc TĐTDS 1989,
nghĩa là thay vì mục tiêu giảm sinh là mục tiêu hàng đầu trong 10 nǎm trước đây
thì từ nay cần đồng thời quan tâm đến yêu cầu tiếp tục giảm sinh (nhất là ở
những vùng có mức sinh còn cao), nhưng chú trọng hơn đến yêu cầu nâng cao chất
lượng con người và chất lượng cuộc sống.

Phân bố dân số theo lãnh thổ

Tỉ trọng của các vùng trong tổng số dân của cả nước qua 2 lần TĐTDS 1989 và
1999 đã có sự thay đổi như sau: tǎng lên ở 3 vùng Đông Nam bộ, Tây Nguyên và
Tây Bắc; giảm ở các vùng còn lại, trong đó tỉ trọng dân số của đồng bằng sông
Cửu Long và đồng bằng sông Hồng giảm nhiều nhất. Đây là kết quả tổng hợp của 2
yếu tố di cư và giảm sinh của các vùng.

Do dân số tǎng lên gần 12 triệu người, mật độ dân số Việt Nam đã tǎng từ 195
người/km2 nǎm 1989 lên 231 người/km2 nǎm 1999, cao thứ 3 trong khu vực Đông Nam
á (chỉ sau Singapore và Philippin) và đứng thứ 13 trong số 42 nước thuộc khu
vực châu á Thái Bình Dương.

Di cư và đô thị hóa

Tỉ suất di cư (được định nghĩa bằng tổng số người đã di cư trong kì nghiên cứu
chia cho số dân có khả nǎng tham gia di cư trong khoảng thời gian đã xác định,
nhân với 100 hoặc 1000) tính cho thời kì 5 nǎm trước thời điểm TĐTDS là 74%o.
Nếu trừ đi số người di cư giữa các xã/phường trong nội bộ mỗi huyện/quận, thì mức
di cư nǎm 1999 chỉ cao hơn nǎm 1989 một chút (49,5%o so với 52,1%o). Giống như
nǎm 1989, 2 vùng Tây Nguyên và Đông Nam bộ vẫn là địa điểm thu hút các luồng di
dân, còn các vùng Bắc Trung bộ, đồng bằng sông Cửu Long, duyên hải Trung Nam
bộ, đồng bằng sông Hồng và Đông Bắc là những vùng có mức xuất cư cao. Khác với
bức tranh di cư của thời kì 1984-1989, các thành phố lớn trong những nǎm qua đã
có sức thu hút mạnh mẽ nhiều người chuyển đến làm ǎn sinh sống. Trong 5 nǎm
1994-1999, có 1,2 triệu người từ khu vực nông thôn đã nhập cư vào thành thị để
làm ǎn sinh sống ổn định, trong khi đó chỉ có 422.000 người di cư theo chiều
ngược lại, nghĩa là luồng di cư nông thôn - thành thị cao gấp 3 lần so với
luồng di cư thành thị - nông thôn.

Dân số thành thị cả nước chỉ chiếm 23,5% tổng số dân. Trong 10 nǎm qua, tốc độ
tǎng dân số thành thị hàng nǎm đạt mức trung bình của các nước châu á (3,2%),
song tỉ trọng dân số thành thị của nước ta vẫn còn quá thấp so với các nước
trong khu vực, chỉ cao hơn một chút so với Lào (17%). Đây cũng là một biểu hiện
trình độ phát triển xã hội còn thấp của nước ta.

Cơ cấu dân số theo giới tính và độ tuổi

Tỉ số giới tính được sử dụng làm thước đo về cơ cấu giới tính của dân số và
được định nghĩa bằng số nam trên 100 nữ. Tỉ số giới tính của Việt Nam khá thấp
chủ yếu do hậu quả của các cuộc kháng chiến chống xâm lược từ 1946 đến 1979.
Theo số liệu của các cuộc TĐTDS, tỉ số giới tính của nước ta nǎm 1979 chỉ có 94
nam/100 nữ, tǎng lên 97 nam/100 nữ vào nǎm 1999. Tỉ số giới tính của nước ta
vào loại thấp nhất so với các nước châu á, chỉ cao hơn một chút so với
Campuchia (94). Hai vùng Tây Nguyên và Tây Bắc có tỉ số giới tính cao nhất,
tương ứng là 103 và 100, chủ yếu do mức và tỉ lệ nhập cư của 2 vùng này khá
cao. Đối với nhóm trẻ sơ sinh, tỉ số giới tính đạt 107 nam/100 nữ. Do mức tử
vong của nam cao hơn nữ, nên tỉ số này giảm dần qua các độ tuổi và đạt giá trị
thấp nhất ở nhóm trên 65 tuổi (68 nam/100 nữ).

Do mức sinh giảm nhanh trong khi tuổi thọ ngày càng tǎng, dân số Việt Nam có xu
hướng lão hóa với tỉ trọng người già (trên 65 tuổi) ngày càng tǎng: từ 4,7% nǎm
1989 lên 5,8% nǎm 1999. Đặc biệt chú ý là tỉ lệ dân số gia tǎng nhanh, gấp hơn
3 lần so với tỉ lệ tǎng dân số chung. Tỉ lệ này đặc biệt sẽ tǎng nhanh vào
những nǎm giữa thế kỉ 21. Tỉ trọng trẻ em dưới 15 tuổi ngày càng giảm: từ 39%
nǎm 1989 xuống còn 33,5% vào nǎm 1999. Vì vậy, tỉ lệ sống phụ thuộc chung (được
tính bằng tỉ lệ % của tổng số trẻ em dưới 15 tuổi và số người già trên 65 tuổi
chia cho dân số từ 15 đến 64 tuổi) của dân số nước ta liên tục giảm với tốc độ
nhanh, từ 98 nǎm 1979 xuống 86 nǎm 1989 và chỉ còn 71 vào nǎm 1999.

Tình trạng hôn nhân

So với tổng điều tra dân số nǎm 1989, tỉ trọng dân số từ 15 tuổi trở lên chưa
kết hôn đã tǎng lên 3% đối với cả nam và nữ.

ở cả khu vực thành thị và nông thôn, tuổi kết hôn lần đầu bình quân của nữ chỉ
tǎng khoảng 1/2 tuổi, nhưng của nam tǎng trên 1 tuổi, làm khoảng cách tuổi kết
hôn lần đầu giữa nam và nữ tǎng lên, từ 2 tuổi trong cuộc TĐTDS nǎm 1989 lên
hơn 3 tuổi trong cuộc TĐTDS nǎm 1999. Đây cũng là một yếu tố góp phần hạ thấp
mức sinh nước ta trong vòng 10 nǎm qua.

ii. dân số tác động đến suy thoái, ô nhiễm, tác hại cho tài nguyên môi trường
nước ta

Những tác hại của môi trường đối với con người chủ yếu là những tổn thất về sức
khỏe, nǎng suất lao động và các tác hại khác. Sức khỏe, niềm hạnh phúc của con
người bị giảm sút do ốm đau và chết yểu, vì suy thoái chất lượng nước và không
khí, vì những nguy hiểm khác của môi trường. Các chất gây ô nhiễm có thể làm
nảy sinh những vấn đề về y tế, trực tiếp hoặc gián tiếp do sự thay đổi môi
trường vật lý, tác động của nó trải rộng từ việc tǎng bức xạ mặt trời đến việc
giảm dinh dưỡng. Sức khỏe bị suy yếu làm giảm nǎng suất lao động của con người
và sự suy thoái môi trường làm giảm hiệu nǎng của nhiều nguồn tài nguyên mà con
người sử dụng trực tiếp.

Rừng

Cũng như nhiều nước đang phát triển trên thế giới, rừng nước ta bị tàn phá một
cách nhanh chóng. Trong vòng 50 nǎm qua, diện tích rừng nước ta đã bị giảm hơn
một nửa, từ 19 triệu ha xuống còn 9 triệu ha, bình quân mỗi nǎm 200 ngàn ha.
Nguyên nhân của tình trạng trên, ngoài khai thác gỗ và các loại lâm sản một
cách bừa bãi, còn do nhu cầu lương thực cho số dân tǎng quá nhanh đòi hỏi phải
phá rừng mở rộng diện tích canh tác. Một số dân tộc ít người có tập quán du
canh, du cư, rừng sau khi đốt phát thành nương rẫy chỉ gieo trồng được vài ba
vụ là lại phải di chuyển sang nơi khác phá rừng làm nương rẫy mới. Quá trình
trên cứ lặp đi lặp lại hết đời này sang đời khác làm cho diện tích rừng tự
nhiên nhanh chóng bị thu hẹp lại. Rừng không chỉ là nguồn cung cấp gỗ mà còn có
các chức nǎng xã hội và sinh thái rộng lớn. Diện tích rừng giảm sút, diện tích
đất trống, đồi trọc tǎng lên làm lũ lụt xảy ra nhiều hơn.

Biển

Hệ sinh thái cửa sông ven biển là một vùng có ý nghĩa quan trọng và là đối
tượng chịu sự biến động của cả hai yếu tố tự nhiên và nhân tạo. Con người là
nguyên nhân chủ yếu làm tổn hại môi trường ven biển. Các vùng cửa sông và nước
nông chịu sự ô nhiễm do nước thải từ các thành phố đông dân, các nhà máy, xí
nghiệp công nghiệp, do thǎm dò dầu khí ở các thềm lục địa, do bốc dỡ hàng, đặc
biệt là các sản phẩm dầu từ các hải cảng. Việc khai thác bừa bãi rừng ngập mặn
để xây dựng các ao nuôi trồng thủy sản, lấy gỗ làm nhà, cung cấp củi đốt và làm
than...làm tǎng sự phá hủy do sóng, thủy triều và bão. Các công trình thi công
ven biển, việc khai đào cát, khai thác đá bãi biển gây ảnh hưởng đến địa mạo bờ
biển.

Khoáng sản

Nếu tài nguyên, khoáng sản không được khai thác hợp lý sẽ tàn phá môi trường,
gây hậu quả xấu đến sự phát triển kinh tế và đời sống sức khỏe con người. Tác
động lớn nhất của khai thác khoáng sản đến môi trường là của các mỏ, bãi thải,
khí độc, bụi và nước thải. Bãi thải không có các công trình xử lý đã làm trôi
lấp ruộng, vườn, sông suối, làm ô nhiễm nguồn nước, gây bụi. Gần một nửa số
người bị bệnh bụi phổi (lao silicosis) tập trung tại vùng khai thác than Quảng
Ninh. Nồng độ bụi tại các nơi khảo sát đều lớn hơn giới hạn cho phép 30-100
lần.

Môi trường nước

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều nên tài
nguyên khá phong phú. Số lượng sông suối có chiều dài trên 10km đạt tới con số
2.340 nghĩa là bình quân cứ 141km2 có một sông. Khoảng 66% số sông suối có diện
tích lưu vực dưới 100km2.


Dân số và phát triển









Phát triển kinh tế xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất
và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan
hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hoá. Phát triển là xu thế chung của từng cá
nhân và cả loài người trong quá trình sống. Giữa môi trường và sự phát triển có
mối quan hệ hết sức chặt chẽ: môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát
triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường.


Trong hệ thống kinh tế xã hội, hàng hoá được di chuyển từ sản xuất, lưu
thông, phân phối và tiêu dùng cùng với dòng luân chuyển của nguyên liệu, năng
lượng, sản phẩm, phế thải. Các thành phần đó luôn ở trạng thái tương tác với
các thành phần tự nhiên và xã hội của hệ thống môi trường đang tồn tại trong
địa bàn đó. Khu vực giao nhau giữa hai hệ thống trên là môi trường nhân tạo.


Tác động của hoạt động phát triển đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi
là cải tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo
đó, nhưng có thể gây ra ô nhiễm môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo. Mặt khác,
môi trường tự nhiên đồng thời cũng tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội
thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên đang là đối tượng của hoạt động
phát triển hoặc gây ra thảm hoạ, thiên tai đối với các hoạt động kinh tế xã hội
trong khu vực.


ở các quốc gia có trình độ phát triển kinh tế khác nhau có các xu hướng gây
ô nhiễm môi trường khác nhau. Ví dụ:


Ô nhiễm do dư thừa: 20% dân số thế giới ở các nước giàu hiện sử dụng 80% tài
nguyên và năng lượng của loài người.


Ô nhiễm do nghèo đói: những người nghèo khổ ở các nước nghèo chỉ có con
đường phát triển duy nhất là khai thác tài nguyên thiên nhiên (rừng, khoáng
sản, nông nghiệp,...). Do đó, ngoài 20% số người giàu, 80% số dân còn lại chỉ
sử dụng 20% phần tài nguyên và năng lượng của loài người.


Mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển trên dẫn đến sự xuất hiện các quan
niệm hoặc các lý thuyết khác nhau về phát triển:


Lý thuyết đình chỉ phát triển là làm cho sự tăng trưởng kinh tế bằng (0)
hoặc mang giá trị (-) để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của trái đất.


Một số nhà khoa học khác lại đề xuất lấy bảo vệ để ngăn chặn sự nghiên cứu,
khai thác tài nguyên thiên nhiên.


Năm 1992 các nhà môi trường đã đưa ra quan niệm phát triển bền vững, đó là
phát triển trong mức độ duy trì chất lượng môi trường, giữ cân bằng giữa môi
trường và phát triển.


Mục lục






Môi trường và pt kt



Mối quan
hệ giữa môi trường với phát triển kinh tế xã hội
30-03-2011 16:25:29 GMT +7


Giữa môi trường và sự phát triển có mối quan hệ hết sức chặt
chẽ: môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là
nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường. Môi trường tự nhiên đồng thời
cũng tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội thông qua việc làm suy thoái
nguồn tài nguyên đang là đối tượng của hoạt động phát triển hoặc gây ra thảm
hoạ, thiên tai đối với các hoạt động kinh tế xã hội trong khu vực. Ở các quốc
gia có trình độ phát triển kinh tế khác nhau có các xu hướng gây ô nhiễm môi
trường khác nhau.

Ví dụ:



  • Ô nhiễm do dư thừa: 20% dân
    số thế giới ở các nước giàu hiện sử dụng 80% tài nguyên và năng lượng của
    loài người.
  • Ô nhiễm do nghèo đói: những
    người nghèo khổ ở các nước nghèo chỉ có con đường phát triển duy nhất là
    khai thác tài nguyên thiên nhiên (rừng, khoáng sản, nông nghiệp,...). Do
    đó, ngoài 20% số người giàu, 80% số dân còn lại chỉ sử dụng 20% phần tài
    nguyên và năng lượng của loài người.
  • Mâu thuẫn giữa môi trường
    và phát triển trên dẫn đến sự xuất hiện các quan niệm hoặc các lý thuyết
    khác nhau về phát triển:
  • Lý thuyết đình chỉ phát
    triển là làm cho sự tăng trưởng kinh tế bằng (0) hoặc mang giá trị (-) để
    bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của trái đất.
  • Một số nhà khoa học khác
    lại đề xuất lấy bảo vệ để ngăn chặn sự nghiên cứu, khai thác tài nguyên
    thiên nhiên đã đưa ra quan niệm phát triển


Thực trạng môi trường ở
nước ta:


Môi trường ở Việt Nam:

Hiện nay, thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang đứng trước 5 cuộc khủng
hoảng lớn là: dân số, lương thực, năng lượng, tài nguyên và sinh thái. Năm cuộc
khủng hoảng này đều liên quan chặt chẽ với môi trường và làm cho chất lượng
cuộc sống của con người có nguy cơ suy giảm. Nguyên nhân gây nên các cuộc khủng
hoảng là do sự bùng nổ dân số và các yếu tố phát sinh từ sự gia tăng dân số.
Nước ta thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá và đương nhiên là kéo theo đô
thị hoá. Theo kinh nghiêm của nhiều nước, tình hình ô nhiễm môi trường cũng gia
tăng nhanh chóng.

Trong quá trình phát triển, nhất là trong thập kỷ vừa qua, các đô thị lớn như
Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, đã gặp phải nhiều vấn đề môi trường ngày càng
nghiêm trọng, do các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông
vận tải và sinh hoạt gây ra. Tại thành phố Hồ Chí Minh có 25 khu công nghiệp
tập trung hoạt động với tổng số 611 nhà máy trên diện tích 2298 ha đất. Theo
kết quả tính toán, hoạt động của các khu công nghiệp này cùng với 195 cơ sở
trọng điểm bên ngoài khu công nghiệp, thì mỗi ngày thải vào hệ thống sông Sài
Gòn - Đồng Nai tổng cộng 1.740.000 m3 nước thải công nghiệp, trong đó có khoảng
671 tấn cặn lơ lửng, 1.130 tấn BOD5 (làm giảm nhu cầu ôxy sinh hoá), 1789 tấn
COD (làm giảm nhu cầu ôxy hoá học), 104 tấn Nitơ, 15 tấn photpho và kim loại
nặng. Lượng chất thải này gây ô nhiễm cho môi trường nước của các con sông vốn
là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho một nội địa bàn dân cư rộng lớn, làm ảnh
hưởng đến các vi sinh vật và hệ sinh thái vốn là tác nhân thực hiện quá trình
phân huỷ và làm sạch các dòng sông.

Trước những điểm nóng về ô nhiễm môi trường như trên, nhiều giải pháp tương đối
đồng bộ và cụ thể đã được kiến nghị nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường cả
trong hiện tại và trong dự báo về chính sách, chiến lược, quy hoạch đến các
giải pháp về công nghệ, nhân lực, giải pháp xã hội, các cộng cụ kinh tế và các
biện pháp quan trắc theo dõi, kèm theo một số dự án hoặc nghiên cúu sâu đối với
các trường hợp cụ thể.

Sau đây là những biểu hiện của khủng hoảng môi trường



  • Ô nhiễm không khí (bụi,
    SO2, CO2 v.v...) vượt tiêu chuẩn cho phép tại các đô thị, khu công nghiệp.
  • Hiệu ứng nhà kính đang gia
    tăng làm biến đổi khí hậu toàn cầu. • Tầng ozon bị phá huỷ.
  • Sa mạc hoá đất đai do nhiều
    nguyên nhân như bạc màu, mặn hoá, phèn hoá, khô hạn.
  • Nguồn nước bị ô nhiễm.
  • Ô nhiễm biển xảy ra với mức
    độ ngày càng tăng.
  • Rừng đang suy giảm về số
    lượng và suy thoái về chất lượng
  • Số chủng loài động thực vật
    bị tiêu diệt đang gia tăng.
  • Rác thải, chất thải đang
    gia tăng về số lượng và mức độ độc hại.


Các kết quả đã đạt được trong việc bảo vệ môi
trường


Từ sau hội nghị quốc tế về môi trường lần đầu tiên năm 1972, vấn đề môi trường
ngày càng trở nên cấp thiết ở mỗi quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam.
Các nước đã đề ra những mục tiêu, chiến lược bảo vệ môi trường, chống sự nóng
lên của trái đất, các giảm lượng khí thải, đặt ra các tiêu chuẩn nghiêm ngặt
trong việc xử lý chất thải công nghiệp trước khi đưa ra môi trường. Nước ta
cũng đã kí cam kết với thế giới trong việc bảo vệ môi trường với nhiều chương
trình hành động thiết thực như: phủ xanh đất trống đồi trọc, trổng rừng phòng
hộ ven biển, giao rừng cho dân quản lý, trồng rừng,..

Ngoài ra nước ta còn đầu tư nhiều chi phí cho việc xây dựng các hệ thống xử lý
chất thải của các khu công nghiệp, tích cực tham gia các hoạt động môi trường
thế giới, kí các hiệp định về môi trường.. chứng tỏ chính phủ ta rất quan tâm
đến vấn đề môi trường.Riêng đối với các khu công nghiệp thì tất cả các chủ đầu
tư hạ tầng khu công nghiệp và hầu hết các doanh nghiệp đầu tư trong khu công
nghiệp đã hoàn tất thủ tục về môi trường trước khi đi vào hoạt động. Nhận thức
về công tác bảo vệ môi trường của các chủ đầu tư ngày một nâng cao. Hằng năm
đều tham gia các hoạt động về truyền thông môi trường Một số doanh nghiệp thực
hiện rất tốt công tác bảo vệ môi trường như: các nhà máy điện, một số cảng,…đều
đầu tư hoàn chỉnh các hệ thống xử lý chất thải, các chất thải nguy hại đều được
thu gom và xử lý đúng quy định thông qua các hợp đồng với các đơn vị có chức năng
và năng lực xử lý, nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải và thực hiện
giám sát môi trường hằng năm theo quy định. Nhiều chương trình như “Go green –
hành trình xanh thắp sáng ước mơ” là sự phối hợp hợp tác giữa Tổng cục Bảo vệ
Môi trường (VEPA), Bộ Giáo dục và Đào tạo (MOET) và công ty ô tô Toyota Việt
Nam (TMV).

Một số tồn tại

Quy chế bảo vệ môi trường đối với các khu công nghiệp được ban hành theo Quyết
định 62/2002/QĐ.BKHCNMT của Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường chưa chặt chẽ
dẫn đến tình trạng kéo dài đầu tư các hệ thống xử lý nước thải tập trung của
các khu công nghiệp ( Điều 19 của Quy chế quy định phải xây dựng hoàn chỉnh hệ
thống xử lý tập trung khi khu công nghiệp đã lấp đầy 70% diện tích đất ).Phần
lớn các chủ đầu tư hạ tầng các khu công nghiệp không thực hiện nghiêm các cam
kết trong nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được Bộ Tài nguyên
và Môi trường.


Trang 2





Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển.





Dedicated to






"Môi trường hay phát triển": một cách đặt vấn đề sau lầm.


Trong lịch sử phát triển của các quốc gia, đã có một thời, nhất là sau cuộc
cách


mạng công nghiệp, phát triển kinh tế được đặt lên hàng đầu, lấn át tất cả
những yếu


tố khác của sự phát triển: xã hội, văn hoá, môi trường, quyền con người, v.v...



Thậm chí, khuynh hướng "phát triển với bất cứ giá nào", phát triển
tự phát đã trở


nên thịnh hành, gây ra những hậu quả hết sức tai hại cho cả môi trường lẫn
xã hội,


văn hoá.


Ngay cả trong thời điểm hiện nay, khi mà cuộc chạy đua phát triển giữa các
quốc


gia, giữa các khu vực kinh tế của thế giới đang diễn ra ngày càng gay gắt,
khốc liệt,


thì khuynh hướng "phát triển với bất cứ giá nào" vẫn được tôn sùng
trên thực tế,


đặc biệt là ở các nước đang phải đối đầu với nghèo đói, lạc hậu, kinh tế
chậm phát


triển. Trong bối cảnh đó, người ta dễ có khuynh hướng hi sinh môi trường và
các


yếu tố khác cho phát triển kinh tế. Những người quá sốt ruột trước tình
trạng lạc











47hậu, kém phát triển của nước mình thường lập luận rằng "cứ phát triển
kinh tế đã


rồi sẽ tính sau". Kết quả là môi trường bị suy thoái làm cho cơ sở của
phát triển bị


thu hẹp; tài nguyên của môi trường bị giảm sút về số lượng và chất lượng,
trong


điều kiện dân số ngày càng tăng lên, chính là nguyên nhân gây nên sự nghèo
khó,


cùng cực của con người. Tấn thảm kịch ở một số nước châu Phi (như Xômali,



Êtiopia, Uganda, Ruanđa, v.v...) là một bằng chứng cho sự "ô nhiễm do
nghèo đói"


(Pollution of Poverty) ở các nước đang phát triển.


- Ngược lại với khuynh hướng trên là khuynh hướng "tăng trưởng bằng
không


hoặc âm" (Zero or Negative Growth) để bảo vệ các nguồn tài nguyên hữu
hạn,


hoặc "chủ nghĩa bảo vệ" chủ trương không can thiệp vào các nguồn
tài nguyên sinh


học để bảo vệ chúng: hay "chủ nghĩa bảo tồn" (Conservationism) chủ
trương không


đụng chạm vào thiên nhiên, nhất là tại các địa bàn chưa được điều tra,
nghiên cứu


đầy đủ. Tất cả những khuynh hướng, quan điểm trên đều là không tưởng, đặc
biệt


đối với các nước đang phát triển, nơi mà tài nguyên thiên nhiên là nguồn vốn



bản cho mọi hoạt động phát triển của con người.


Lý thuyết không tưởng về"đình chỉ phát triển" thường xuất hiện ở
các nước phát


triển, bởi vì trước đây và ngay cả hiện nay phần lớn các nguồn tài nguyên
của các


nước đang phát triển bị khai thác lạm dụng, tiêu thụ quá mức để phục vụ cho
các


lợi ích của các nước công nghiệp hoá phát triển và chính tại đây lại xảy ra
hiện


tượng "ô nhiễm do giàu có" (Pollution of affluence).


Như vậy, tình trạng thiếu lương thực, nước uống, nhà ở, thuốc men, vệ sinh,
nghèo


đói, mù chữ, thiên tai ở các nước đang phát triển, hay nói cách khác là hiện
tượng


"ô nhiễm do nghèo đói" một phần bắt nguồn từ "ô nhiễm do giàu
có".


-Từ những điều trình bày trên, ta thấy: phát triển và môi trường không phải
là hai


vế luôn luôn đối kháng và mẫu thuẫn nhau theo kiểu loại trừ, có cái này thì
không


có cái kia. Do đó, không thể chấp nhận cách đặt vấn đề "phát triển hay
môi


trường", mà phải đặt vấn đề "phát triển và môi trường", nghĩa
là phải lựa chọn và


coi trọng cả hai, không hy sinh cái này vì cái kia.


sponsor

Chữ kí của tớ
Chào mừng Người đau khổ đến với diễn đàn

Cảm ơn là 1 nghệ thuật và người cảm ơn là 1 nghệ sĩ, Để cảm ơn Người đau khổ hãy nhấn vào dấu + bên phải mỗi bài biết, Thanks

[You must be registered and logged in to see this image.]

Admin
Ô Sin
Ô Sin

Leo Cung Hoàng Đạo : Horse
Tổng số bài gửi : 552
Được Cảm ơn : 69
Ngày biết yêu(Sinh Nhat) : 29/07/1990
Ngày thấy mặt : 01/09/2010
Age : 26
Đến từ : Nam Định

Xem lý lịch thành viên http://cghk49.hisforum.com

Về Đầu Trang Go down

Re: Câu hỏi về dân số và tài nguyên

Bài gửi by uct_bluesky on Tue Oct 04, 2011 6:31 pm

kiem tra xong roi .hix

uct_bluesky
Chém gió ra nước

Aquarius Cung Hoàng Đạo : Horse
Tổng số bài gửi : 333
Được Cảm ơn : 4
Ngày biết yêu(Sinh Nhat) : 13/02/1990
Ngày thấy mặt : 07/07/2011
Age : 26
Đến từ : Vinh Phuc city

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang

- Similar topics

 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết